Du lịch Sầm Sơn – làng nghề bánh đa Minh Châu

Sầm Sơn, Thanh Hóa được biết nhiều đến bởi bãi biển đẹp, những món đặc sản ngon như: Nem chua, cá rô, gỏi cá… và khách du lịch Sầm Sơn Thanh Hóa không thể quên một món: “ Bánh đa Minh Châu

Sau hàng trăm năm, người dân làng Chòm Sầm Sơn Thanh Hóa đã coi nghề tráng bánh đa là nghề chính chứ không chỉ đơn thuần là nghề phụ lúc nông nhàn. Làng nghề sản xuất ra hai loại bao gồm bánh đa (có địa phương gọi là bánh khô, hoặc bánh tráng) và bánh đa nem.

Du lịch Sầm Sơn - làng nghề bánh đa Minh Châu

Du lịch Sầm Sơn – làng nghề bánh đa Minh Châu

Cái mùi thơm béo ngậy của vừng khi được quạt trong ánh lửa và tiếng nổ lép bép của than hoa đang cháy trong chậu là thứ mà ai cũng dễ dàng bắt gặp khi đến làng nghề làm bánh đa Minh ChâuBánh đa làng Minh Châu dày và nhiều vừng, không như bánh đa làm ở các nơi khác. Bánh đa nhiều vừng nên ăn ngon hơn. Ngoài ra, để phù hợp với số lượng người ăn nhiều hay ít mà bánh đa cũng được làm nhiều loại có kích thước to nhỏ khác nhau. 

Ngày xưa xay bột làm bánh đa phải dùng phương pháp thủ công là quay tay máy xay bằng đá, nay đã được thay thế bằng máy dùng bằng điện nên tốc độ và lượng sản xuất đã tăng nhiều.

Khác với một số làng nghề khác khi làm bánh nguyên liệu thường pha lẫn cả các loại nguyên liệu khác như cơm nguội, khoai lang, bột sắn hay pha bột nghệ cho đẹp màu, bánh đa làng Minh Châu chỉ dùng nguyên liệu duy nhất là bột gạo với vừng. Theo những người làm bánh lâu năm ở làng thì chỉ làm bằng bột gạo thì bánh đa sau khi quạt mới giữ được độ giòn và thơm lâu, không bị dai dù có để lâu trong không khí.

Bánh đa đẹp hay không phụ thuộc vào nghệ thuật của người quạt nướng bánh. Khi quạt bánh phải đều tay để giữ cho đều gió, đều lửa và lật bánh thật đều, có như vậy bánh mới chín đều và có màu vàng rộm tự nhiên. Ngoài ra, than dùng để quạt bánh phải là than hoa gốc, nghĩa là than đốt từ những gốc cây to, vì chỉ than này mới cháy lâu, lửa đượm và đều, không chóng tàn như các loại than khác.

Cùng công ty du lịch Khát Vọng Việt tìm hiểu nguồn gốc của bánh đa có tên gọi là “bánh tráng”. Tên gọi dựa trên đặc điểm cách làm là bằng phương pháp tráng bột gạo (giống như tên gọi bánh cuốn là sau khi tráng và hấp chín bột thì cuốn lại). Tên gọi đó được sử dụng trong dân gian khá phổ biến (cho đến nay vẫn có nơi gọi là bánh tráng).

Tuy nhiên, cho đến khoảng giữa thế kỷ XVII thì tên gọi loại bánh này bị Chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657) ra lệnh phải thay đổi với lý do… phạm húy với tên thực của Chúa, ai gọi tên “bánh tráng” sẽ bị trách phạt tội. Mà không chỉ riêng bánh tráng, những thức quà nào có chữ “tráng” đều phải thay đổi. Bởi vậy, “bánh tráng” mới đổi tên thành “bánh đa”, và tên gọi này duy trì cho đến tận bây giờ.

Một chiếc bánh đa quạt thành công phải là một chiếc bánh có màu vàng rộm và nở phồng đều nhau, nếu chỗ nào còn lõm là bột gạo chưa chín, phải quạt lại. Bánh đa là thức quà dân dã ở chốn thôn quê, nhưng giờ đây cũng đã có mặt trong các đô thị lớn, len lỏi vào các nhà hàng sang trọng. Và với “dân nhậu”, thì ngoài hải sản ngon thì bánh đa như một món khai vị không thể thiếu trong mỗi cuộc nhậu.

Nghề làm bánh đalàng Minh Châu vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ trong làng. Nhiều đôi bạn trẻ khi cưới còn rất thích chụp ảnh cưới bên cạnh các dàn trephơi bánh đa, như một sự yêu mến trân trọng đối với nghề làm bánh. Cho thấy dân làng nơi đây, ý thức được việc giữ gìn làng nghề truyền thống của mình, truyền tình yêu này từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khách du lịch Sầm Sơn Thanh Hóa khi đi qua đây đều dừng lại mua về làm quà có vị ngon độc đáo này.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *